Người quen nuôi ong mật chuyển sang ong dú thường sai ở chỗ mang theo cả mô hình kinh tế cũ. Kỹ thuật thì học lại được, nhưng mô hình sai từ đầu thì kế hoạch hỏng từ năm thứ nhất.
| Ong dú | Ong mật | |
|---|---|---|
| Chích | Không chích được | Có ngòi chích |
| Cấu trúc tổ | Khối liền, dính vào thành thùng | Cầu tháo lắp được |
| Chứa mật | Hũ bầu rời nhau | Trên cầu |
| Thu hoạch | Phá cấu trúc, đàn xây lại | Quay ly tâm, trả cầu về |
| Sản lượng mật | Thấp | Cao hơn nhiều |
| Bán kính bay | Vài trăm mét | Xa hơn nhiều |
| Di chuyển theo mùa hoa | Không | Có, là chiến lược chính |
| Nhân đàn | Một tới hai lần mỗi năm | Nhanh hơn nhiều |
| Công chăm | Ít | Nhiều |
| Đặt gần nhà dân | Được | Phải cân nhắc |
Ong mật di chuyển theo mùa hoa — đó là chiến lược trung tâm. Ong dú ở nguyên chỗ và phải sống qua tháng đói bằng nguồn tại chỗ.
Nghĩa là: vị trí quyết định gần hết, và không sửa được bằng cách chở đàn đi nơi khác.
Sản lượng mật thấp và thu là can thiệp vào tổ. Trong khi đó nguồn cung giống hẹp vì sinh học nên cầu vượt cung. Đảo ngược hoàn toàn so với ong mật.
Bán kính bay ngắn nghĩa là nhiều tổ một chỗ ăn chung một vùng hoa. Mở rộng là mở thêm điểm, không phải xếp thêm thùng — trần này không vượt được bằng vốn.
Nhân đàn chậm nghĩa là từ vài đàn lên vài chục đàn là chuyện của nhiều năm. Kế hoạch dựa trên cấp số nhân sai ngay từ năm đầu.
Phần lớn kiến thức về đàn ong vẫn dùng được: đọc hoạt động cửa tổ, hiểu vai trò chúa, nhận biết đàn yếu. Phần phải học lại là cách can thiệp — vì tổ không tháo lắp được, mọi thao tác đều nặng hơn và phải hiếm hơn.
Với ong mật, doanh thu chính là mật và di chuyển đàn theo mùa hoa là chiến lược trung tâm. Với ong dú, doanh thu chính thường là giống, và đàn ở nguyên chỗ nên vị trí quyết định gần hết.
Vì bán kính bay chỉ vài trăm mét nên nhiều tổ một chỗ ăn chung một vùng hoa. Mở rộng là mở thêm điểm đặt chứ không phải xếp thêm thùng, và trần này không vượt được bằng vốn.
Không chích nên nuôi được gần nhà và kết hợp du lịch nông nghiệp, công chăm ít vì không di chuyển đàn và không quay mật định kỳ, thụ phấn tốt cho hoa nhỏ và hoạt động cả khi trời râm, và nguồn cung giống hẹp là cơ hội với người nuôi.
Ba lỗi: phản xạ dọn sạch sáp thừa khi mở nắp trong khi sáp bịt là hạ tầng của đàn ong dú, thói quen mở tổ thường xuyên khiến tổ mất nhiệt mất ẩm, và tính sản lượng mật làm chỉ số chính thay vì số lần tách được.
Phần lớn kiến thức về đàn ong vẫn dùng được như đọc hoạt động cửa tổ hay nhận biết đàn yếu. Phải học lại là cách can thiệp, vì tổ không tháo lắp được nên mọi thao tác đều nặng hơn và phải hiếm hơn.
Với ong dú, thu mật không phải là gặt hái mà là rút vốn. Câu hỏi là rút bao nhiêu thì đàn còn lớn được.
Ở trại vài chục đàn, thường một phần nhỏ tạo ra phần lớn giá trị. Không đo thì không biết là đàn nào.
Thu mật nhiều thì đàn chậm lớn, mà đàn chậm lớn thì tách được ít. Hai đầu ra kéo ngược nhau.
Quy mô không tăng đều. Có những mốc mà qua đó cách làm cũ ngừng hoạt động.
Trục quy mô và kinh tế: làm trại ong dú như một cơ sở sản xuất. Bao nhiêu tổ thì sống được bằng nghề, bố trí mặt bằng, chi phí đầu tư, nhân công, lịch vận hành quanh năm, đầu ra sản phẩm, kết hợp du lịch nông nghiệp. Người đọc là người tính chuyện làm ăn, không phải người nuôi chơi vài tổ.